
Cập nhật ngày Chủ nhật, 11 Tháng 7 2010 01:47 Viết bởi Administrator Chủ nhật, 05 Tháng 10 2008 17:20
Chuẩn
mực kế toán Việt Nam số 18 – “Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm
tàng” được Bộ Tài chính ban hành theo quyết định số 100/2005/QĐ-BTC. Để
hướng dẫn chuẩn mực này, Bộ Tài chính đã ban hành thông tư số
21/2006/TT-BTC ngày 20/03/2006, QĐ 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 hướng
dẫn chi tiết song những thuật ngữ, nội dung trong chuẩn mực còn trừu
tượng, mang định tính cao nên việc vận dụng vào thực tế của đơn vị gặp
rất nhiều khó khăn.
Hơn nữa một số thuật ngữ và nghiệp vụ đề cập trong chuẩn mực còn khá mới mẻ ở Việt Nam, bởi trên thực tế chưa xảy ra hoặc rất ít xảy ra. Do đó việc phân biệt giữa “Dự phòng phải trả” với “các khoản dự phòng khác”, giữa “Dự phòng phải trả” và “Nợ tiềm tàng”, giữa “xác định được” với “không xác định được”, giữa “Nợ phải trả” vớí “Nợ phải trả tiềm tàng” là cần thiết để chuẩn mực này đi vào cuộc sống.
1. Ý nghĩa của chuẩn mực số 18
Chuẩn mực đảm bảo việc áp dụng các nguyên tắc ghi nhận, cơ sở
hạch toán phù hợp cũng như việc công bố đầy đủ thông tin đối với các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng nhằm
giúp cho người sử dụng hiểu được bản chất nghiện vụ, thời điểm phát
sinh, số lượng và giá trị ghi sổ của các khoản mục này.
Chuẩn mực đưa ra các điều kiện cần phải được thực hiện để
công nhận một khoản dự phòng giúp cho doanh nghiệp đạt được tính nhất
quán và tính so sánh trong việc hạch toán các khoản dự phòng. Thực hiện
chuẩn mực này nhằm công khai các khoản nợ tiềm tàng trên Báo cáo Tài
chính đáp ứng yêu cầu trình bày đầy đủ.
Chuẩn mực hướng dẫn cho người lập Báo cáo Tài chính quyết
định cụ thể khi nào thì lập dự phòng, khi nào chỉ công bố thông tin
hoặc khi nào không công bố thông tin.
Chuẩn mực nhằm đảm bảo rằng doanh nghiệp chỉ trình bày trên
Báo cáo tài chính những nghĩa vụ pháp lý những khoản nợ phát sinh từ
các sự kiện quá khứ thì mới được ghi nhận khoản dự phòng liên quan. Còn
các khoản chi phí dự tính trong tương lai do áp lực về thương mại hoặc
quy định của pháp luật mà doanh nghiệp dự định phải chi tiêu như trường
hợp đặc biệt trong tương lai thì không được lập dự phòng.
2. Những phạm vi mà chuẩn mực 18 không đề cập đến
Chuẩn mực này áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp để kế toán các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng, ngoại trừ:
- Các khoản mục phát sinh từ các hợp đồng thông thường, không kể các hợp đồng có rủi ro lớn;
- Các công cụ tài chính (Các công cụ tài chính áp dụng theo quy định của chuẩn mực kế toán về công cụ tài chính.)
- Những khoản mục đã quy định trong các chuẩn mực kế toán khác như CM
11 “Hợp nhất kinh doanh”, CM 17 “ Thuế thu nhập DN”, CM 15 “Hợp đồng
xây dựng”, CM 14 “ Doanh thu và thu nhập khác”...
3. Phân biệt các khoản dự phòng phải trả và nợ tiềm tàng

Từ mô hình 1 chúng ta có thể phân biệt và hiểu rõ hơn CM 18
- Nợ phải trả bao gồm Nợ tiềm tàng và Nợ thông thường. Một khoản nợ phải trả là
nghĩa vụ nợ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các sự kiện đã qua
và việc thanh toán khoản phải trả này dẫn đến sự giảm sút về lợi ích
kinh tế của doanh nghiệp.
|
|
Nợ thông thường |
Nợ tiềm tàng |
|
Giống nhau
|
Chúng đều là khoản nợ phải trả | |
|
Khác nhau |
- Là các khoản Nợ phải trả thường xảy ra, được xác định gần như chắc chắn về giá trị và thời gian. |
- Là các khoản không được ghi nhận là các khoản nợ phải trả thông thường, vì: Các khoản nợ phải trả thường xảy ra, còn khoản nợ tiềm tàng thì chưa chắc chắn xảy ra. (chưa chắc chắn về giá trị và thời gian) |
- Nợ tiềm tàng bao gồm dự phòng phải trả và Nợ tiềm tàng
Tất cả các khoản dự phòng đều là nợ tiềm tàng vì chúng không được xác định một cách chắc chắn về giá trị hoặc thời gian. Tuy nhiên, trong phạm vi chuẩn mực này thuật ngữ “tiềm tàng” được áp dụng cho các khoản nợ và những tài sản không được ghi nhận vì chúng chỉ được xác định cụ thể khi khả năng xảy ra hoặc không xảy ra của một hoặc nhiều sự kiện không chắc chắn trong tương lai mà doanh nghiệp không kiểm soát được. Hơn nữa, thuật ngữ “nợ tiềm tàng” được áp dụng cho các khoản nợ không thoả mãn điều kiện để ghi nhận là một khoản nợ phải trả thông thường.
|
|
Dự phòng phải trả |
Nợ tiềm tàng |
|
Giống nhau |
- Chúng không được xác định một cách chắc chắn về giá trị hoặc thời gian. | |
|
Khác nhau |
- Một khoản dự phòng là khoản nợ phải trả không chắc chắn về giá trị hoặc thời gian. |
- Nợ tiềm tàng có thể là: |
|
|
- Tất cả các khoản dự phòng đều là nợ tiềm tàng vì chúng không được xác định một cách chắc chắn về giá trị hoặc thời gian. |
- Trong phạm vi chuẩn mực này thuật ngữ “Nợ tiềm tàng” được áp dụng cho các khoản nợ không được ghi nhận vì chúng chỉ được xác định cụ thể khi khả năng xảy ra hoặc không xảy ra của một hoặc nhiều sự kiện không chắc chắn trong tương lai mà doanh nghiệp không kiểm soát được. |
|
|
- Các khoản dự phòng là các khoản đã được ghi nhận là các khoản nợ phải trả (giả
định đưa ra một ước tính đáng tin cậy) vì nó là các nghĩa vụ về nợ phải
trả hiện tại và chắc chắn sẽ làm giảm sút các lợi ích kinh tế để thanh
toán các nghĩa vụ về khoản nợ phải trả đó. |
- “Nợ
tiềm tàng” được áp dụng cho các khoản nợ không thoả mãn điều kiện để
ghi nhận là một khoản nợ phải trả thông thường vì các khoản nợ phải trả
thường xảy ra, còn khoản nợ tiềm tàng thì chưa chắc chắn xảy ra. |
|
|
- Có thể ước tính nghĩa vụ nợ một cách đáng tin cậy thì lập dự phòng |
- Không thể ước tính nghĩa vụ nợ một cách đáng tin cậy, thì khoản nợ hiện tại không được ghi nhận và trình bày như một khoản nợ tiềm tàng. |
4. Nội dung cơ bản của chuẩn mực

Để minh hoạ rõ hơn sơ đồ trên, ta nghiên cứu ví dụ sau:
Trong một vụ xét xử, có thể gây ra tranh luận để xác định rằng những sự
kiện cụ thể đã xảy ra hay chưa và có dẫn đến một nghĩa vụ nợ hay không.
Công ty A sản xuất sản phẩm thể thao vừa cho ra đời
loại giầy thể thao mới nhưng bị kiện vì một công ty khác cho rằng Công
ty A đã đánh cắp kiểu dáng công nghiệp và đòi bồi thường 400 triệu. Đại
diện pháp lý của Công ty A có ý kiến rằng việc bồi thường có được thực
hiện hay không là do phán quyết của toà án. Tuy nhiên họ dự tính rằng
có tới 90% khả năng là khoản bồi thường sẽ bị từ chối và 10% khả năng
thành công.
Giải:
Trường hợp này doanh nghiệp phải xác định xem liệu có tồn tại nghĩa vụ
nợ tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm hay không thông qua việc xem xét
tất cả các chứng cứ đã có, bao gồm cả ý kiến của các chuyên gia. Chứng
cứ đưa ra xem xét phải tính đến bất cứ một dấu hiệu bổ sung nào của các
sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm. Dựa trên cơ sở của các
dấu hiệu đó:
a) Khi chắc chắn xác định được nghĩa vụ nợ tại ngày kết thúc kỳ kế toán
năm, thì doanh nghiệp phải ghi nhận một khoản dự phòng (nếu thoả mãn
các điều kiện ghi nhận); và
b) Khi chắc chắn không có một nghĩa vụ nợ nào tại ngày kết thúc kỳ kế
toán năm, thì doanh nghiệp phải trình bày trong Bản thuyết minh báo cáo
tài chính một khoản nợ tiềm tàng, trừ khi khả năng giảm sút các lợi ích
kinh tế rất khó có thể xảy ra (như quy định tại đoạn 81).
Nghĩa vụ hiện tại do sự kiện trước đây gây ra:
- Bằng chứng hiện có do các chuyên gia cung cấp cho thấy rằng có
nhiều khả năng không có nghĩa vụ hiện tại vào ngày lập bảng cân đối kế
toán;
- 90% khả năng là khoản bồi thường sẽ bị từ chối.
- Không có sự kiện phát sinh nghĩa vụ nợ nào xảy ra.
Vì thế không có khoản dự phòng nào công nhận. Vấn đề được công bố như một khoản nợ tiềm tàng trừ khi 10% được xem là xảy ra, nhưng rất xa.
Việc phân biệt bằng biện pháp so sánh, sơ đồ hoá hy vọng sẽ giúp bạn
đọc xác định được rõ hơn khoản Dự phòng phải trả hay khoản nợ tiềm tàng
khi nghiên cứu chuẩn mực số 18.
TCKT cập nhật: 11/11/2006
ThS. Nguyễn Đào Tùng - Học viện Tài chính
(tapchiketoan.info)